[2025] 19/35 - Bông sen vàng
Đọc xong cuốn sách này, mình hối hận vì không tìm hiểu và đọc sớm hơn, và lại càng hối hận khi trước đây mình đã có rất rất nhiều cơ hội để mua nhưng mình không mua, cũng lại càng hối hận khi mình đã có thể có cơ hội được đưa cuốn sách này làm nguồn cảm hứng cho những bài văn của mình. Mà không chỉ dừng lại ở trang văn qua giấy bút, đó là nguồn cảm hứng để thay đổi chính mình, mình phải nén lại một lúc sau khi gấp sách lại bởi dư âm của nó – dư âm trong trẻo nhưng cũng thật day dứt len lỏi và trong trái tim của mình.
Cuốn sách là những mẩu chuyện ngắn về thời niên thiếu của Chủ tịch Hồ Chí Minh – nó là những câu chuyện đời thường đi học, giúp đỡ cha mẹ, bày tỏ quan điểm về thời cuộc của câu trò Nguyễn Sinh Côn và cũng lại là một giai đoạn bước ngoặt khi cậu trò nhỏ nhân hậu ấy lại đứng trước nỗi đau khôn cùng – mất mẹ mất em vào những ngày tết. Bằng tất cả lòng thành kính, nhà văn Sơn Tùng đã đi sâu vào những câu chuyện rất đỗi đời thường của của Bác, một giai đoạn thuở niên thiếu nhưng nó lại là tiền đề quan trọng hình thành lên tư tưởng yêu nước, một nhân cách của một con người vĩ đại.
Một nhân cách lớn xuất phát từ lòng yêu thương con người…
Qua những trang văn thấm đẫm chất thơ, dung dị mà cũng đầy tính hiện thực về thời cuộc nước mất nhà tan, nhân dân đói khổ,ta có thể thấy rõ nguồn cội cho tấm lòng quảng đại ấy là lòng yêu thương con người và cả những gì nhỏ bé nhất.
Một cậu bé Côn buồn khi cánh chuồn chuồn bị gãy nó sẽ không bay được, buồn vì chim con mất chim mẹ sẽ đau lòng dù có thể ta không biết những con thú nhỏ bé kia chúng buồn thế nào
Một câu bé Côn dù có thành bộ dạng nào, con mèo nhỏ vẫn nhận ra và sà vào lòng người đem cho nó cảm giác an toàn. Con vật không phức tạp như người và cảm giác luôn là thứ không thể làm giả
Một cậu bé Côn không cần giương oai giễu võ như mấy tên quan lại vô dụng nhưng lại được người kính trọng vì không phân biệt lễ nghĩa. Một câu bé Côn không quản ngại đường xá xa xôi để chỉ dạy cho người cần chữ mà không được, một bé buồn khi người khác đang thiệt thòi dù mình cũng không có gì hơn
Một con người như thế đâu cầu phải tập, một người như vậy đâu cần phải cố ép người khác phải tin mình, một nhân cách lay động cả những đứa trẻ hung hãn, lay động cả những người đã đi qua quá nửa cuộc đời nhưng nhiều khi chính họ lại là những người thiệt thòi dù ở trong cung mà lại không biết đến mình là ai từ miệng một đứa trẻ.
Và từ lòng yêu thương con người nhỏ bé dung dị ấy mới hoà vào tình yêu nước lớn lao “Tổ quốc là con thuyền, dân ở trên con thuyền ấy. Điều lợi, điều hại của Tổ quốc chính là niềm vui, nỗi lo của dân. Nếu như người nào cũng nghĩ đến lợi riêng mình, không lấy việc nước làm trọng, hoặc còn ra sức phá hoại thì còn gì là nước, là dân
Một con người giỏi không chỉ từ sự thông minh mà còn qua nỗ lực và kiên trì…
Trong câu chuyện này, ngoài câu chuyện về Côn, có lẽ không thể không ấn tượng với nhân vật Phó Tràng – một người thợ. Phó Tràng và Côn – hai người có cuộc sống khác nhau, vận mệnh khác nhau
Một người là thợ từ tấm bé rồi mới bắt đầu học làm người
Một người là người học từ tấm bé và muốn học một nghề để làm thợ
Dù là xuất phát thế nào nhưng mình thấy thế này: một người học làm người từ bé hiểu đạo lý nhưng để con chữ nằm trên sách vở thì bài học làm người cũng chỉ là lý thuyết cũng chẳng thể tạo nên một nhân cách nào, một người làm thợ giỏi nhưng bất lương thì cũng không làm được người tốt và về sau cũng sẽ chẳng thành một thợ giỏi. Dù là một học trò hay là một người thợ, hai con người ấy luôn đồng điệu vì luôn nỗ lực và kiên trì, luôn mong muốn được tiếp thu tri thức, luôn muốn được nhìn quan sát và học tập ghi vào trong đầu rồi áp dụng, lấy thực tế để soi chiếu bài học, lấy bài học soi chiếu lại những kinh nghiệm của mình. Suy rộng ra là luôn soi lại mình, luôn kiên trì, luôn đặt câu hỏi luôn bàn luận. Nhưng ngoài việc chủ động học hỏi thì yếu tố tạo nên một con người tốt ấy là một đôi tai – một trái tim biết lắng nghe và cảm thụ. Người thợ chạy theo đồng tiền thì cũng không biết sản phẩm mình làm ra làm gì, đẹp cái gì và cho ai, người học chữ lại trường giả học làm sang phân biệt đối xử thì cũng không coi là người có học.
Anh cử Sắc đã luôn căn dặn những người con của mình tư chất thông minh cốt sẵn là may mắn nhưng tự học kiên trì nỗ lực cũng tạo nên những kỳ tích: “Ngọc bất trác bất thành khí (ngọc không mài dũa không thành của quý)”. Hoặc người cha đã quá nửa đời người của Phó Tràng đã dạy anh kiên trì nỗ lực ngoài thành một người thợ giỏi mà còn là một độc bản, kiên trì là theo đuổi đến cùng không bỏ cuộc nhưng cao hơn cả là kiên trì xây dựng thành một độc bản trên đời không phải bản sao chép của bất cứ ai để không phải thấy xấu hổ: “Con học nghề của cha nhưng con phải làm nghề theo cách của con. Con phải vắt óc mình nóng lên thì nó mới sáng láng mà tìm tòi ra những cái đẹp, cái hay, cái của chính mình chứ không phải sự bắt chước. Bắt chước là em, ăn cắp là anh vậy. Nếu thế gian nào cũng như người nào thì thế gian này sẽ nghèo xơ xác”
Ngoài là một người thợ giỏi, một người văn hay chữ tốt ấy còn phải là người cúi xuống nhìn những mảnh đời nhỏ bé, khi Phó Tràng chưa hiểu thiên chức nghề mình cha đã dạy đóng ghế cho cụ bán nước thay vì giao một công việc là đóng ngai cho vua, nghề chân chính ấy là không phân biệt giàu nghèo, gần với nhân dân thì lòng ta mới vững. Người biết chữ cũng vậy, là người phu trên cánh đồng con chữ phải thấu đến nhân dân chứ đâu phải nhìn xa hoa bên mình.
Nền tảng gia đình…
Ngọn nguồn của con người ban đầu là quê hương là vong linh ông bà tổ tiên, gia đình rồi đến xóm làng và rộng ra là non sông đất nước. Qua câu chuyện về tư chất thông minh sáng lạn của cậu trò Côn, ngọn nguồn ấy là một nền tảng gia đình giao thoa quý trọng truyền thống và hiện đại. Điều ấn tượng là quãng đờiniên thiếu của Người được sống trên cả hai vùng đất giàu bản sắc văn hoá: Nghệ An và xứ Huế.
In đậm sâu trong tâm trí mình là người mẹ Hoàng Thị Loan tảo tần, cha mẹ chính là tấm gương phản chiếu của con cía, người mẹ tảo tần ấy lo toan cho gia đình đông con, để mẹ già ở quê với bao nhung nhớ, lo lắng đèn sách cho chồng mà vẫn bảo toàn việc nuôi dạy con cái nên người, không đòi roi nhưng vẫn đủ nghiêm khắc, đủ sâu sắc để in vào đầu và trái tim những người con của bà những phẩm chất tốt đẹp. Bài học vẫn dạy đều đều trở đi trở lại ấy là lòng yêu thương con người, “Những kẻ vô tâm mới cắm đầu ăn cho no bụng mình chẳng nghĩ đến phần ai. Nhà mình tuy ít của nhưng biết có miếng ăn chia cho đều, có cái tình thì thương cho khắp. Của ăn thì hết, của còn thì cho” Dù gia cảnh cũng chẳng hơn ai, cũng lo toan chật vật với đồng tiền nhưng người mẹ vẫn dạy những người con tự trọng không vì của con mà bán rẻ nhân cách, không vì ích kỉ độc ác mà bỏ mặc người đói khổ, không vì là có chữ mà khinh rẻ người khác, đặc biệt luôn quý trọng nhớ về quê hương nguồn cội. Thậm chí rằng người mẹ ấy để ý đến chi tiết nhỏ nhất, chi tiết nhỏ làm lên chi tiết lớn, hành động nhỏ làm nên một con người, con người tốt đến từ cả những hành động nhỏ nhất.
“Nhân đứng bên tả, chữ nhị bên hữu. Nhân đứng mang hình dáng con người ngay thẳng. Chữ Nhị với hai nét ngang, có nghĩa là bằng nhau, bình đẳng”, cha mẹ Nguyễn Sinh Côn luôn dạy con công bằng, người nào cũng được coi trọng dù là bất cứ ai. Bài học vỡ lòng của những người học trò của anh cử Sắc đều là bài học về ái quốc – là lòng yêu nước. Anh cử Sắc luôn gieo vào lòng người con trai bé bỏng về đất nước, và không ngần ngại không giấu giếm không tô hồng thời cuộc của đất nước, bởi tư tưởng yêu nước phải được thấm nhuần như hơi thở và tế bào không phải lên gân xáo rỗng tạm thời. Phải biết được đất nước đang lầm than, dân trong cảnh mất nước nhà tan, một dân tộc dựng nước 4000 năm giờ lại cúi đầu trước người tây, công trình của cha ông lại nhường chỗ cho những thói hư tật xấu xuống cấp nhân cách của quan lại, “văn minh” của tây dở. Anh luôn muốn những người con, học trò của mình sẽ tiếp tục tư tưởng yêu nước và giữ nước. “Các con ra đời vào thời buổi đất nước nhiễu nhương của thế kỷ này. Nhưng các con là người gánh trọng trách của thế kỷ sau”.
Đọc “Bông Sen Vàng” ta thấy in đậm trong ta là khí phách là tâm tình của một người là nhà nho, nhà giáo và là một người cha đức độ đang đau lòng vì đất nước. Nhưng cuốn sách không dừng ở đó, in đậm tư tưởng yêu nước không chỉ gia đình cụ Nguyễn Sinh Sắc mà còn của bao các nhà nho thiện lương thời bấy giờ. Điều đó có thể thấy qua những buổi trò chuyện đầy khí chất giữa cụ Nguyễn Sinh Sắc và các nhân vật lịch sử như Phan Bội Châu, Đào Tấn, tác phẩm đã tái hiện chân thực tinh thần yêu nước cháy bỏng, nỗi trăn trở trước vận mệnh dân tộc, và khát khao độc lập tự do của tầng lớp trí thức. Và điều đặc biệt hơn cả, không tồn tại tư tưởng trẻ con không bàn chuyện người lớn, cụ Sắc để cho những người con của mình nghe và đặt câu hỏi, không giấu diếm, không nguỵ tạo, muốn gieo vào lòng con thấy được thời buổi nhiễu nhương hiểu rõ được rằng văn minh của người Pháp là ban phát giả dổi, để thấy rằng lựa chọn làm người hay làm ngợm khác nhau thế nào. Chính những điển tích về những người anh hùng thời đại trước, câu chuyện bi tráng của những bậc anh hùng xả thân vì dân tộc như cha con Tôn Thất Thuyết, Phan Đình Phùng,…đã thấm nhuần vào trái tim khối óc trẻ thơ của trò Côn, nuôi dưỡng khát vọng thay cha anh thay đổi vận mệnh đất nước.
Góc nhìn thời cuộc…
Những năm tháng niên thiếu của Nguyễn Sinh Côn lại rơi vào năm tháng đất nước nhiễu nhương rơi vào tay giặc, chúng chia đất nước ta để trị, vua quan đứng về me Tây mặc kệ dân đói khổ. Vàng trong cung cấm lại đối lập gay gắt với gương mặt vàng vọt của nhân dân, có những người như anh Cử Sắc, cụ Tấn…dù căm thù giặc, ghét những tên quan vô lại nhưng cũng bất lực vì nhà vua – đại diện cho đất nước lại quỳ gối đội ơn giặc khai phá văn mình, quan lại tiếp tay cho thực dân giày xéo dân mình, những cuộc kháng chiến cứ thế từng chút một bị dập tắt, thời buổi nhiễu nhương bế tắc và chờ một ngọn đèn dẫn lối. “Vua kháng chiến chống Pháp xâm lược chứ không phải chọn ông vua để làm vì cho giặc mượn tiếng giày xéo non sông, bắt muôn dân làm nô lệ…” “…kinh tởm hơn là kẻ có tâm địa đen tối mà lại ngự trên thiên tử…”
Một ông vua không coi trọng trọng thần thì cũng không thể coi trọng nhân dân. Nhưng cuốn sách tại đây không dừng ở đó, một tích về ông vua có nghe người có lời văn can gián nhưng nguyên do trước đây người đó lại tiếp tay cho vua tàn sát anh em, ngọn nguồn sâu xa vẫn là cái ác thì đến lúc nào cái ác vẫn tiếp tục được sinh sôi. Triều đình nhà Nguyễn những năm tháng đó rối ren từ trong hoàng tộc, bên trong đứt gẫy thì lòng dân cũng chẳng vững bền, việc nhân nghĩa cốt ở yên dân – tư tưởng ấy từ lâu đã có nhưng đến đây điều đó lại không thể thực hiện khi quan thần vì lợi ích riêng an nguy bản thân chọn bán mình cho giặc, nhà vua lại không đại diện nhân dân – lòng nhân dân tan vỡ. Dẫu cho bao cuộc đấu tranh nổi lên là điểm sáng điểm hi vọng nhưng dập tắt vì cái nền gốc nhân nghĩa đã không còn.
Câu hỏi chính mình và trách nhiệm của người trẻ…
“Ngô là ta, Thị là là, Thuỳ là ai (Ta là ai?). Suy rộng ra: Mỗi người ở trong trời đất này phải tự hỏi mình, tìm biết về mình, mình hiểu được mình thì sẽ tự đặt cho mình một trọng trách, sẽ lựa chọn cho mình con đường tiến thủ hoặc ít ra biết cân nhắc cho mình việc làm ích nước, lợi nhà”
Thì ra mình chưa bao giờ coi trọng lịch sử bởi lúc này mình mới nhận ra hiểu được dòng lịch sử bi tráng nhưng oai hùng ngoài biết được diễn biến những năm tháng ấy, coi trọng những gì mình có mới là một phần. Biết được lịch sử là biết được tư tưởng của cha ông ta, dẫu cho thời kỳ khác nhau, phương tiện khác nhau, hiện đại hay thô sơ, thì đều chung lòng yêu nước nồng nàn, khai hoang văn minh không phải ban phát từ bất cứ kẻ nào mà đến từ chính bàn tay khối óc của chính dân tộc mình. Và mình của thế kỷ sau biết được cánh cửa của thế kỉ trước và đang cầm chìa khoá để khai phá cho thế kỷ sau, thế kỷ trước dang dở thế kỷ này tiếp tục, thế kỷ trước đã chiến đấu vì độc lập thì thế kỷ sau giữ nước và phát triển đất nước, thời kỳ nào cũng có trọng trách. Giặc không chỉ đến từ đạn bom, giặc cũng có thể trồi lên từ sự nhàn rỗi.
“Hậu thế sẽ phán xét. Dầu cho có những kẻ xuyên tạc, xuyên tạc bằng miệng, bằng giấy bút, viết hàng chồng sách, đục xoá hàng trăm bia…” hay“…Lời nói khoác và văn tự bán nướccủa vua sẽ còn lưu lại với hậu thế…”
Dù cho có là khai hoá và văn minh quảng đại bác ái rêu rao trên bao giấy tờ thì đói khổ, chết đói của dân là minh chứng cho những gì chúng làm, rõ ràng vạch tội phán xét rõ ràng từ hậu thế dẫu có đốt hết sách vở, phá hoại bao công trình, bao tấm bia thì lịch sử sẽ không bỏ sót sẽ khách quan nhìn nhận. Có người phá thì cũng có người giữ, có người ác cũng có người thiện và cái ác thì không tồn tại lâu, cái thiện vẫn sẽ le lói như vì sao trên bầu trời đen tối, vẫn sẽ ẩn hiện trong trái tim những người nghĩa hiệp, vùi lấp chứ không bị xoá bỏ. Dẫu cho có bao kẻ cố gắng xuyên tạc, quỳ gối thì cũng sẽ có những anh hùng, có kẻ dùng tro cốt người hùng bắn làm thú vui thì cũng có những người có thiên lương cao quý đề ra những áng văn bất hủ ca ngợi, vết tích còn đó, sự đúng sai vẫn sẽ rõ và hậu thế sẽ phán xét nhưng phán xét được thì phải hiểu, phải biết và cảm nhận được còn u mê thì dẫu có bày trước mặt cũng không biết được đâu là tà là chính.
Nhận xét
Đăng nhận xét